Thứ Năm, 6 tháng 9, 2007

Báo Thanh Niên tuyển người




Hình minh họa, không liên quan đến bài viết 55555

Báo Thanh Niên đang tiến hành mở rộng hoạt động và cải tiến, nâng cao chất lượng toàn diện để phục vụ nhu cầu ngày càng cao của bạn đọc. Ngoài 7 số báo ra hàng ngày, 1 tuần san, 1 website tiếng Việt và 1 website tiếng Anh, Thanh Niên sẽ xuất bản thêm một tờ báo tiếng Anh ra hàng ngày mang tên Thanhnien Daily, chínhthức phát hành từ 1.10.2007. Đội ngũ phóng viên, biên tập viên, cán bộ, nhân viên báo Thanh Niên đang làm việc ở tòa soạn Hà Nội, tòa soạn TP.HCM, các văn phòng đại diện tại các địa phương, văn phòng tại Thái Lan, thường trú tại Singapore... sẽ được bổ sung, củng cố.


Để đáp ứng yêu cầu phát triển trên đây, Báo Thanh Niên mở đợt tuyển phóng viên, biên tập viên, hoạ sĩ trình bày với các tiêu chuẩn cụ thể sau đây:

1- ĐỐI VỚI PHÓNG VIÊN, BIÊN TẬP VIÊN TIẾNG VIỆT

- Tuổi không quá 40, sức khỏe tốt, đủ điều kiện thể chất và tâm lý để thích ứng với mọi yêu cầu, mọi tình huống của nghề báo.

- Trình độ đại học hoặc tương đương.

- Thông thạo ít nhất 1 trong các ngoại ngữ: Anh, Pháp, Nga, Hoa, Nhật, Tây Ban Nha (sẽ kiểm tra thực tế, không nhất thiết có bằng cấp).

- Có kỹ năng và kinh nghiệm viết báo.

- Đã có thời gian làm biên tập ít nhất 1 năm tại cơ quan báo chí hoặc xuất bản (tiêu chuẩn dành riêng cho biên tập viên).

2- ĐỐI VỚI PHÓNG VIÊN, BIÊN DỊCH VIÊN TIẾNG ANH

- Tuổi không quá 40, sức khỏe tốt, đủ điều kiện thể chất và tâm lý để thích ứng với mọi yêu cầu, mọi tình huống của nghề báo

- Trình độ đại học hoặc tương đương.

- Thông thạo tiếng Anh (có bằng cấp chuyên ngữ hoặc tốt nghiệp đại học hoặc tương đương ở các nước nói tiếng Anh) và có kỹ năng viết báo bằng tiếng Anh.

- Đã có thời gian làm biên tập các ấn phẩm hoặc website tiếng Anh ít nhất 1 năm (tiêu chuẩn dành riêng cho biên tập viên).

3- ĐỐI VỚI BIÊN TẬP VIÊN TIẾNG ANH

- Người nước ngoài (hoặc người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài) sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức (tiếng mẹ đẻ)

- Trình độ Đại học hoặc tương đương, có kỹ năng viết báo tiếng Anh.

- Có kinh nghiệm làm biên tập các ấn phẩm hoặc website tiếng Anh ít nhất 1 năm.

4- ĐỐI VỚI BIÊN TẬP VIÊN KỸ THUẬT TIẾNG ANH

- Tuổi không quá 40, sức khỏe tốt.

- Thành thạo tiếng Anh (có bằng cấp chuyên ngữ hoặc tốt nghiệp đại học hoặc tương đương ở các nước nói tiếng Anh)

- Đã có thời gian làm biên tập kỹ thuật (morasse) các ấn phẩm hoặc website tiếng Anh ít nhất 1 năm.

5- ĐỐI VỚI HOẠ SĨ TRÌNH BÀY BÁO TIẾNG ANH

- Tuổi không quá 35, sức khỏe tốt.

- Tốt nghiệp đại học hoặc trung cấp Mỹ thuật Công nghiệp, sử dụng thành thạo các phần mềm đồ họa và trình bày báo.

- Thông thạo tiếng Anh (sẽ kiểm tra thực tế).

HỒ SƠ DỰ TUYỂN:

+ 1 đơn xin dự tuyển kèm theo bản tự giới thiệu năng lực, quá trình hoạt động báo chí hoặc nghề nghiệp có dán ảnh. (Viết bằng tiếng Anh nếu dự tuyển vào các vị trí phóng viên, biên dịch viên và biên tập viên tiếng Anh)

+ Sơ yếu lý lịch tự viết, bản photo các bằng cấp. Những giấy tờ này chưa cần có xác nhận của chính quyền địa phương, chưa cần công chứng (giấy tờ chính thức sẽ được yêu cầu bổ sung sau, nếu được tuyển dụng).

+ 5 tác phẩm báo chí tiếng Việt đã được đăng trên báo in (dành cho đối tượng ở mục 1).

+ 5 tác phẩm báo chí tiếng Anh đã được đăng trên báo in (dành cho đối tượng ở mục 2).

THỜI HẠN VÀ NƠI NHẬN HỒ SƠ: từ 4.9 đến 15.9.2007, tại Tòa soạn Báo Thanh Niên, 248 Cống Quỳnh, Quận 1, TP.Hồ Chí Minh. Xin ghi thêm ngoài bì thư: HỒ SƠ DỰ TUYỂN PHÓNG VIÊN (hoặc BIÊN TẬP VIÊN, BIÊN DỊCH VIÊN, BIÊN TẬP VIÊN KỸ THUẬT, KỸ THUẬT VIÊN - nếu là tiếng Anh thì ghi thêm TIẾNG ANH)

Sẽ thông báo mời từng ứng viên đáp ứng đủ các tiêu chu ẩn đến phỏng vấn, căn cứ địa chỉ ghi trong hồ sơ. Đối với các hồ sơ không đạt tiêu chuẩn, xin được không trả lại.

Thứ Hai, 3 tháng 9, 2007

Tình tang nhạc khúc phiêu bồng




Sau khi than vãn là thiếu sự lãng mạn, cô bạn Nguyễn Ngọc Lan Chi liền gửi cho Frankie một bài viết và trên tiêu đề thư viết là: "Một bài viết không mang tính chính trị". Cô còn bảo... lần này thì cho anh cứng bàn phím luôn, vì giờ anh đâu dùng bút để viết.

Tình tang nhạc khúc phiêu bồng


Bước vào những đường hầm dài hoặc những nhà ga lớn, nơi giao nhau của nhiều tuyến métro tại Paris, ắt hẳn sẽ có một lần bạn thả chậm nhịp bước của đôi chân để lắng nghe cho trọn một đoạn «Kachiusa» hay nhắm mắt thả hồn vào khúc violon đang rộn ràng «Hành khúc Thổ Nhĩ Kỳ»… Những người nghệ sĩ lãng du, chẳng có ánh đèn sân khấu hào nhoáng, cũng không có khán phòng hoành tráng đầy ắp khán giả, nhưng ngày qua ngày, tiếng đàn, giọng ca của họ đã giúp quãng đường chuyển trạm của biết bao người dường như ngắn lại…

1. Tiếng hát át cả tiếng tàu

Tôi gặp được bác Georges thật tình cờ. Vài ngày trước đó, trong những phút ngắn ngủi tàu dừng, tôi được nghe một nghệ sĩ violon trẻ biểu diễn tại Havre Caumartin, «giao tuyến» của hai đường métro số 9, số 3 và khi đã chuẩn bị đầy đủ «đồ nghề», tôi quay lại định tìm nhưng chẳng thấy chị đâu. Chưa kịp nuối tiếc thì giọng hát truyền cảm của bác đã thu hút tôi ngay. Bác «chuyên trị» những ca khúc của Aznavour, một ca sĩ rất nổi tiếng của Pháp từ thập niên 60. Nhìn bác say sưa thả hồn vào từng lời hát, lúc dõi mắt về xa xăm, khi đặt tay lên ngực buồn thê thiết, tôi cứ tưởng nơi bác đang đứng là… nhà hát Opéra của Paris, chứ chẳng phải ngay kề bên trạm chờ, cứ vài ba phút lại có một chuyến tàu xình xịch chạy qua. Thấy bác trả lời rất nhiệt tình với những lời thăm hỏi của hành khách qua lại, tôi biết bác là người khá cởi mở nên chẳng ngại ngần bắt chuyện lúc bác tạm «lắng giọng», ăn uống qua loa… nạp năng lượng lấy sức hát tiếp buổi chiều…

Bác Georges vui vẻ mở đầu câu chuyện: «Tôi vốn người miền Nam nước Pháp, khi về hưu cách đây 6 năm, để kiếm thêm chút đỉnh trang trải cho cuộc sống giá cả ngày một đắt đỏ, tôi lặn lội lên Paris, tìm chỗ trọ, ngày ngày ra các trạm métro đem tiếng hát phục vụ hành khách qua lại. À, tôi hát có giấy phép, có thẻ «hành nghề» do RATP(1) cấp đàng hoàng đó!»

Bác hào hứng chìa tấm thẻ có hình mình rồi lục lọi tiếp mấy tờ «giấy phép» cho tôi xem. Để được hát trong trạm métro, các nghệ sĩ phải đến văn phòng chuyên về quản lý những hoạt động âm nhạc trong khu vực nhà ga của RATP, biểu diễn cho họ xem thử, nếu đạt đủ «tiêu chuẩn», mỗi người sẽ đóng 20 euros cho 6 tháng và được nhận đầy đủ thẻ cùng các loại giấy tờ hành nghề. Thấy tôi ra vẻ tò mò về khoản «tiêu chuẩn» để được «duyệt», bác cười bảo: «Paris là thành phố du lịch, du khách sử dụng phương tiện công cộng nhều lắm, nếu để cho những người đàn dỏm, hát dở biểu diễn loạn cả lên thì còn gì là mặt mũi của «kinh đô ánh sáng» nữa!». Thật ra, vẫn có khá nhiều nghệ sĩ hành nghề «chui», theo bác Georges, có thể họ là những người nhập cư trái phép vào nước Pháp, hoặc họ sở hữu những giọng ca, tiếng đàn mà những người thẩm định «không thể nào thưởng thức nổi!».

Bác Georges có giọng hát thật trầm ấm, lại trang bị bộ dụng cụ khá chuyên nghiệp (bác khoe với tôi là loa và micro tuy giá cả phải chăng nhưng “made in Japan” đàng hoàng, hát suốt 7, 8 tiếng mới hết pin), vậy mà bác chỉ thật sự làm ca sĩ từ khi gia nhập đội ngũ những nghệ sĩ métro: «Hát hay là một chuyện, trở thành ca sĩ chuyên nghiệp là một chuyện khác, khác xa nhau lắm! Lúc nhỏ, tôi có học thanh nhạc, nhưng học vì đam mê thôi, chứ chẳng mộng mị nổi tiếng gì đâu, lớn một chút tôi tham gia vào dàn hợp xướng của nhà thờ. Rồi tôi vào đời, làm đủ thứ nghề, nhưng chẳng có nghề nào dính dáng đến niềm đam mê thuở nhỏ. À, kể ra thì tôi từng có «fan» hâm mộ đấy nhé! Khi tôi và vợ cùng làm việc cho một siêu thị, tôi thường vừa dọn dẹp, sắp xếp các kệ hàng, vừa khe khẽ hát, vậy mà có một bà khách quen lại gặp vợ tôi và khen giọng hát tôi quá xá!» Bác cười giòn tan, bỗng chuyển giọng buồn buồn: «Nhưng sau đó tôi và vợ tôi chia tay nhau, con trai tôi ở với cô ấy. Sự cô đơn cũng là một trong những nguyên do khiến tôi bỏ lên Paris, mong được sống thật sự với niềm đam mê ca hát và vơi bớt nỗi tịch mịch khi thui thủi một mình một cõi mỗi lần về đến nhà. Mới hôm trước thôi, một phụ nữ dẫn con đi ngang qua lúc tôi đang hát, chú bé nhìn tôi, kháu khỉnh lắm, tôi vẫn hát, mà tự nhiên nước mắt lại rơi, tôi nhớ con tôi quá, ngày xưa tôi cũng từng ẵm con, hát ru con ngủ…», thoáng nhìn qua, tôi thấy mắt bác ươn ướt… Một khoảng lặng, rồi bác lấy lại giọng vui vẻ: «Cho nên tôi rất thích trò chuyện với mọi người, phải sống trong cô đơn, tôi thèm giao tiếp kinh khủng!»

Hơn sáu năm ca hát phục vụ bá tánh, không biết người ca sĩ già được gì và mất gì? Nghe tôi hỏi, bác hơi trầm ngâm, rồi tiếp lời: «Tôi «được» rất nhiều, nhìn một cách «kinh tế» thì thu nhập từ việc ca hát cộng với khoản lương hưu giúp tôi có một cuộc sống khá dễ chịu, nhưng đâu chỉ có thế! Cái «được» lớn nhất của tôi là niềm vui, tôi nói có vẻ «sách vở» quá nhỉ, nhưng thật sự tôi vui lắm, tôi vui vì được thỏa mãn niềm đam mê lớn nhất của đời mình, vui vì những hành khách ngồi trong tàu nhưng vẫn hướng về phía tôi mỉm cười khích lệ, vui với ánh mắt đồng cảm của những người đứng chờ tàu ở phía xa xa kia, đó là những thông điệp không thốt thành lời, được truyền tải giữa tâm hồn với tâm hồn, và hôm nay, tôi vui vì được cô… phỏng vấn viết bài! «Mất» thì kể ra tôi chẳng mất gì nhiều, cũng có chút bệnh nghề nghiệp, như tai tôi hơi có vấn đề vì quanh năm suốt tháng phải mở loa khá lớn, có lớn mới át nổi tiếng tàu, rồi cái lạnh của những luồng gió mùa đông khiến lỗ mũi tôi lúc nào cũng sụt sịt hay những lần tôi hoảng hồn vì mấy anh say xỉn cứ lăm le kiếm chuyện… Nhưng cuộc đời mà, làm việc gì cũng phải hy sinh chút đỉnh mới thấy thú vị. Biển phải có sóng mới là biển, chứ biển mà phẳng lặng quá thì người ta gọi là… cái ao cho rồi!»

2. Tứ hải giai huynh đệ

Giữa những người mang nghiệp cầm ca mà «thân tại giang hồ», luôn hiện hữu một tình huynh đệ rất đặc biệt. Bản chất nghệ sĩ vốn hào sảng, tâm hồn luôn bay bổng và lại cùng cảnh ngộ «nhà hát là nhà ga, hành khách là khán giả, đồng xu thay cho hoa» nên họ rất dễ thông cảm, chia sẻ với nhau.

Đàn hát tại các trạm métro, yếu tố «địa lợi, nhân hòa» rất quan trọng: những khu vực là giao điểm của nhiều đường métro hoặc gần những điểm du lịch nổi tiếng hay trạm dừng của các tuyến tàu hướng về nơi sinh sống của giới thượng lưu (như quận 16, Versailles, Neuilly…) đều hứa hẹn một ngày «thu hoạch» rủng rỉnh. Quan trọng là thế, nhưng hầu như không bao giờ họ tranh giành hay to tiếng cự cãi để có một chỗ thuận lợi, thậm chí có lúc sẵn sàng nhường «vị trí chiến lược» cho nhau. Bác Georges kể với tôi: «Thường thì tôi hát ở đây, nhưng đôi khi cũng lang thang đến nơi khác, nhất là mùa đông, chỗ này có nhiều gió luồn, bây giờ giá cả xăng dầu lại lên, RATP tiết kiệm, không mở sưởi nhiều như trước kia, lạnh thấu trời. Có một lần tôi sang khu Opéra, đi tới đi lui cả buổi mà chẳng kiếm được chỗ nào kha khá vì những nơi ngon lành đã được các đồng nghiệp đặt «đại bản doanh» hết rồi. Đang chưa biết tính sau, bỗng một anh chơi accordéon đề nghị: «Anh qua lại nãy giờ, lại vác theo cả cái túi to sụ thế kia, nhìn bơ phờ lắm rồi. Anh thường hát ở Havre Caumartin chứ gì? Thôi, kiếm chỗ nào rửa mặt cho tươi tỉnh lên, quay lại tôi sẽ để chỗ này cho anh, hôm nay kiếm cũng kha khá, nghỉ ngơi sớm chút cũng chẳng sao!». Tôi cảm động quá sức, cô thấy không, thời nay tình nghĩa vẫn nặng hơn đồng tiền nhiều lắm!»

Cũng trong những dịp bôn ba tìm kiếm nơi biểu diễn mà nhiều nghệ sĩ đã thân thiết và kết thành nhóm cùng nhau biểu diễn. Bác Georges không dấu vẻ tiếc nuối: «Ông ấy về lại Roumanie rồi, dù sao cũng là quê hương mà! Ông từng là thầy dạy piano đấy, nhưng ở một tỉnh nhỏ tại đất nước Đông Âu nghèo, cuộc sống chật vật quá, ông lên đường đến Paris mong thu nhập được khá hơn. Ông chơi đàn tuyệt hay, tuy chỉ là đàn điện tử chứ chưa phải là sở trường piano đâu nhé! Tôi bị ông ấy thu hút ngay, rồi tôi hỏi ông có biết những nhạc khúc của Aznavour không, cũng may là Aznavour nổi tiếng vì bạn tôi nói tiếng Pháp chỉ bập bẹ… Sau đó chúng tôi đàn, hát chung với nhau được năm sáu tháng thì ông cảm thấy chán cuộc sống xô bồ ở Paris nên quyết định về quê luôn. Đó là khoảng thời gian vui vẻ và đáng nhớ nhất của tôi…»

Tôi chợt nghĩ đến Lưu Chính Phong và Khúc Dương Trưởng lão trong «Tiếu ngạo giang hồ» của Kim Dung tiên sinh, người chính kẻ tà, thấu cảm được nhau bên điệu cầm tiêu thánh thót, họ đã kết thành tri kỷ… Trong văn chương, âm nhạc giúp hai vị Lưu-Khúc bỏ lại những định kiến xã hội hà khắc, tại nhà ga métro, bác Georges và người bạn nghệ sĩ dương cầm Roumanie đã vượt qua rào cản ngôn ngữ đời thường để đạt đến một ngôn ngữ mà cả hai đều thấu hiểu đến tận tâm khảm, ngôn ngữ kỳ diệu của âm nhạc…

3. Muôn màu muôn vẻ nghiệp hát rong

Về những hoạt động âm nhạc trong hệ thống đường métro chằng chịt của Paris, tôi có thể tạm tóm gọn trong một từ: «đa dạng». Đa dạng trong cách thức tổ chức: với những nghệ sĩ như bác Georges, đàn hát mang tính tự phát, tự quản, nhưng có những nhóm nhạc được chuẩn bị khá bài bản. Tiêu biểu là nhóm nhạc công người Ukraine chuyên hát tại khu vực Châtelet, họ có người quản lý hẳn hoi, cho in đĩa (20 euros/đĩachứ chẳng chơi!), liên kết với một nhà hàng của cộng đồng Slave (Trung - Đông Âu) tổ chức những đêm hội ẩm thực– âm nhạc với giá vé cho mỗi người là 35 euros… Có vẻ họ biểu diễn tại Châtelet phần nào theo kiểu «lấy ngắn nuôi dài», thu nhập từ hành khách qua lại cũng rất khá, vì họ đàn, hát hay, làm sôi động cả một góc nhà ga, nhưng không ngoài mục đích tự quảng cáo, bán đĩa và phân phát tờ rơi giới thiệu những đêm diễn.

Kế đến là đa dạng về tuổi tác: từ anh sinh viên trường nhạc ngày hè rảnh rỗi đứng kéo violon kiếm thêm tiền đi du lịch đến những người nghệ sĩ tuổi trung niên tóc lốm đốm bạc… Tôi từng có duyên được gặp và trò chuyện với cụ Barbara. Cụ chơi kèn harmonica trên những chuyến tàu RER đi về vùng ngoại ô Paris. Cụ đã 85 tuổi và có hơn 20 năm đi theo những đoàn tàu ngang dọc khắp Ỵles de France(2)! Cụ vào một tiệm Trung Hoa để ăn trưa, mở ví cho tôi xem mộ xấp vé restaurant(3), cười hiền hậu: «Hồi nhỏ khi học harmonica, bà chẳng thể tưởng tượng có một ngày mình lại lang thang chơi kèn trên các đoàn tàu để kiếm sống. Nhưng con thấy đó, vẫn còn nhiều người tốt lắm, họ sẵn lòng tặng bà bao nhiêu là vé ăn! Có lẽ bà lợi thế hơn các đồng nghiệp ở mái tóc bạc phơ…». Cũng như bác Georges, cụ Barbara bắt đầu nghiệp rong ruổi cùng tiếng kèn từ khi về hưu, cuộc sống bây giờ thứ gì cũng tăng giá, mà cụ thì còn khỏe lắm và chơi harmonica vẫn rất ngon lành kia mà!

Vàsau cùng là đa dạng về văn hóa… Bạn có thể bắt gặp đủ loại nhạc cụ, đủ thứ ngôn ngữ, đủ kiểu bài hát khi làm một vòng quanh các trạm métro lớn ở Paris. Buổi sáng đi qua Châtelet, gần đường métro số 1, bạn sẽ được thưởng thức những bài hát đậm nét Đông Âu, trưa trưa một chút, tại cùng địa điểm, một ban nhạc Nam Mỹ réo rắt đàn sáo «thay ca» cho các đồng nghiệp Slave, chiều về, đi theo hướng đường 7, bạn bỗng buồn da diết theo tiếng đàn bầu của một người đàn ông Trung Quốc, đôi khi đi về khuya, ngồi chờ RER ở phía Les Halles, tôi vẫn thấy vui vui với tiếng trống rộn ràng của hai anh nhạc công gốc châu Phi. Đương nhiên sẽ không thể thiếu sự góp mặt của accordéon, violon với các giai phẩm bất hủ của Mozart, Beethoven, Vivaldi… cho bộ sưu tập âm nhạc của métro.

Từng làn điệu âm nhạc theo bước chân rong ruổi của những nghệ sĩ lãng du nhè nhẹ đi vào lòng mỗi người, nhẹ đến mức ta không hay biết nhưng rồi một ngày, giữa dòng đời vội vã, ta bỗng bước chậm lại để nghe cho hết khúc hát quen thuộc, dù ngoài kia, nhịp sống gấp rút không ngừng thúc dục…

Nguyễn Ngọc Lan Chi

Thứ Sáu, 31 tháng 8, 2007

Đâu rồi sự lãng mạn?




Vừa đi tác nghiệp ở Đại sứ quán về. Không quen mặc sơ mi cravat nên ngợp thở gần chết. Ra khỏi Đại sứ quán cái tháo luôn cravat ra, cởi phăng luôn cái cúc áo rồi hổn hển thở. À, nhìn lãng mạn không? Hehehe

Cách đây hơn một năm, tôi làm việc ở một kênh radio trực tuyến. Công việc hàng ngày của tôi là biên tập chương trình, diễn đọc và kiêm luôn làm hậu kỳ âm thanh. Thưở đó, tôi công nhận là mình lãng mạn, văn vẻ hoa mỹ. Tính chất của chương trình radio mà tôi làm là talk show nên lời lẽ cứ phải mềm mại để dễ đi vào lòng người. Thêm vào đó, sở thích design, chụp ảnh cùng việc hay đàn đúm với đám designer khác nên cái tính nghệ sĩ và sự lãng mạn như được bồi đắp. Giọng văn tôi viết trên radio cứ thế mà uốn éo, đẹp dịu dàng nhưng không chói loá.


Chia tay radio, tôi khởi động sự nghiệp phóng viên của mình. Mảng chính mà tôi viết là chính trị. Thế là, suốt mấy tháng liền tôi uốn ngòi bút của mình cho thẳng tưng theo hướng chính trị. Hết đảo chính, biểu tình cho đến bạo động. Thấy gì viết đó. Tin càng cô đọng càng tốt, câu cú càng tránh những từ hoa mỹ, văn vẻ càng tốt. Thời gian làm việc bận rộn cũng làm cho tôi chẳng còn thời gian lên blog viết nhật ký. Thế là giọng văn tôi chai sạn dần, cứng dần và dường như khó bẻ cong. Nhưng tôi chẳng nhận ra điều đó cho đến một ngày...

Tôi được giao phỏng vấn một diễn viên phim hành động nổi tiếng thế giới. Kết thúc buổi phỏng vấn, tôi hí hửng về nhà viết một bài hoành tráng rồi gửi cho người phụ trách mục liên quan ở toà soạn. Đọc xong bài, tôi nhận được một câu thẳng tưng như chính cái lối viết của mình vậy: "Mày viết nam tính quá, chả hoa mỹ gì cả". Tôi lý luận: "Ừ thì biết viết mảng văn hoá cần văn vẻ tí nhưng đây là diễn viên hành động, cứng rắn tí cũng hay". Không ăn thua, bài viết của tôi được chị biên tập giúp gọt dũa lại, thêm khăn choàng lông thú, khuyên tai, dây đeo cổ, v.v... Bài viết được đăng. Nhìn lại thấy nó trơn tru hơn bài viết gốc của tôi thật. Một lần khác, một đồng nghiệp mà tôi chưa có dịp diện kiến dung nhan vào blog của tôi và... miệng chữ O mồm chữ A bảo rằng thấy bài tôi viết trên báo tưởng tôi là một ông cụ, ai ngờ xì tin thế kia. Sang ngày hôm sau, cô đồng nghiệp này đọc một bài báo khác của tôi và nói với tôi rằng: "Tít nghe rất chi là câu khách mà đọc nội dung thì... bác học quá". Ôi trời ơi.

Và thế là tôi quyết định mở rộng lĩnh vực mình viết ra các đề tài về văn hoá, ẩm thực, kiều bào, v.v... Tôi đã cố gắng uốn cong ngòi bút của mình. Tuy nhiên, như việc bẻ một thanh sắt thẳng, tôi gồng hết sức nhưng nó cũng không cong như ý muốn. Vì không cong được nên nó cứ như hình zig zag. Bài viết mà tôi cố viết văn vẻ đọc xong cứ lục khà lục khục. Cứng chả ra cứng, mềm chẳng ra mềm. Hồi xưa khi chấp bút viết cái gì, ong bướm cứ thế bay vào đầu, chả cần ngợi lâu. Thế mà bây giờ cố nặn một chữ hoa mỹ cũng là chuyện khó.

Ôi, lãng mạn ơi... chạy đi đâu rồi?

Thứ Sáu, 10 tháng 8, 2007

Linh tinh




Mất ngủ. Đang viết tư liệu. Mệt. Buồn ngủ. Mất ngủ.

Ảnh: Con búp bê dễ ghét của Michael Trương kakaka

Chủ Nhật, 5 tháng 8, 2007

Du lịch Việt Nam và chuyện "hai cô ca sĩ"




Hôm nay bài của mình được lên Lăng kính Chủ Nhật. Lần đầu tiên được "chiếu cố" lên mục này

Đây là bài đăng trên báo:
http://www4.thanhnien.com.vn/Chaobuoisang/2007/8/5/203698.tno

Còn đây là bài gốc:

Công thức nào để quảng bá du lịch Việt Nam?

VIỆT PHƯƠNG (Văn phòng Bangkok)

Nếu như để so sánh cảnh đẹp thiên nhiên cũng như di tích lịch sử giữa Việt Nam và Thái Lan thì công bằng mà nói, nước ta không thua kém gì nước bạn cả. Tuy nhiên, cũng như chuyện hai cô ca sĩ vừa xinh đẹp vừa hát hay. Một cô thì nổi tiếng hơn bởi được lăng xê tốt hơn cộng với việc biết tận dụng cá tính của mình. Còn cô kia thì mãi chả sáng chói được vì thiếu một chiến lược quảng bá chuyên nghiệp.

Từ chuyện marketing...

Sau chuyện biểu trưng du lịch “Welcome to Vietnam” cách đây mấy năm, trước sức ép của dư luận, Tổng cục Du lịch mới xúc tiến ngay việc mở cuộc thi thiết kế biểu trưng (logo) và câu khẩu hiệu (slogan) mới cho du lịch nước nhà với hy vọng đưa thương hiệu du lịch Việt Nam đến đẳng cấp cao hơn. Không thể phủ nhận nỗ lực của Tổng cục nhưng liệu đây có phải là cách làm hay?

Việc tạo ra một biểu tượng và một thông điệp cho du lịch Việt Nam (ở đây được coi như là một sản phẩm) là một bước đi đúng vì bất cứ sản phẩm nào cũng cần có đặc điểm nhận dạng thương hiệu (brand awareness). Tuy nhiên, những gì xảy ra sau đó của quá trình quảng bá du lịch Việt Nam tỏ ra đuối và không có hiệu quả. Nếu như ở các nước có nền công nghiệp du lịch phát triển, họ thuê hẳn một công ty hoặc có một cơ quan chuyên trách về việc xây dựng thương hiệu du lịch và lập chiến lược quảng bá cho nó thì ở Việt Nam, chúng ta mới chỉ làm được bước đầu rồi dừng luôn ở đó. Một ví dụ nhỏ sau đây cho thấy cái sự “đầu voi đuôi chuột” đó.

Trên đường từ sân bay Nội Bài về trung tâm Hà Nội cách đây không lâu, người ta dễ dàng nhận ra tấm biển quảng cáo tấm lớn với biểu trưng “Vietnam – The Hidden Charm”. Tấm biển chỉ có nền trắng, một biểu trưng, một câu khẩu hiệu và thế là hết. Không hình ảnh, không có một thông tin gì khác. Giả sử một người khách du lịch chưa từng nghe qua “The Hidden Charm” hẳn họ phải thắc mắc tấm biển quảng cáo đơn giản đến mức tối đa kia đang nói về sản phẩm gì nhỉ. Rồi kể cả họ có biết “The Hidden Charm” là câu khẩu hiệu quảng bá du lịch Việt Nam đi chăng nữa thì họ sẽ nghĩ đất nước Việt Nam có gì hấp dẫn để thăm thú trong khi không có lấy một hình ảnh để quảng cáo. Điều đầu tiên mà khách hàng quan tâm đến một bức quảng cáo là họ muốn biết sản phẩm hay dịch vụ đó sẽ mang lại lợi ích gì cho họ. Trong trường hợp này, hình ảnh về phong cảnh, con người Việt Nam đẹp đẽ chào mời khách du lịch chính là lợi ích mà nếu khách du lịch đến nước ta họ sẽ nhận được. Chính vì vậy mà một số người đã nói vui rằng “The Hidden Charm” không phải là “Vẻ đẹp tiềm ẩn” mà là “Vẻ đẹp bị giấu đi” (to be hidden trong tiếng Anh vừa là tiềm ẩn, vừa có nghĩa là bị che lấp đi).

Đó là còn chưa kể đến việc sau khi tạo dựng được hình ảnh của một thương hiệu rồi, người ta phải cho nó xuất hiện khắp mọi nơi. Những “Amazing Thailand” (Thái Lan đáng kinh ngạc), “Malaysia – Truly Asia” (Malaysia – châu Á đích thực) hay “Uniquely Singapore” (Singapore độc đáo) xuất hiện nhan nhản ở nhiều khu vực trên thế giới. Người ta cũng nghe đến mức thuộc giai điệu bài “Malaysia – Truly Asia” trên CNN. Thậm chí Malaysia hay Singapore còn mang hình ảnh nước mình sang thiên đường du lịch của khu vực là Thái Lan để quảng bá. Thái Lan coi như đang bị cạnh tranh ngay trên mảnh đất của mình. Ngay cả như chương trình quảng cáo du lịch Macau còn nằm chễm trệ trên các toa tàu điện ở thủ đô Bangkok. Các nước tìm mọi cách để người ta phải nhớ đến hình ảnh nước mình càng nhiều càng tốt, mọi lúc, mọi nơi. Có phải vì khiêm tốn và du lịch Việt Nam vẫn còn giấu mình với thế giới như vậy?

...đến chuyện festival

Các liên hoan du lịch (festival) ở Việt Nam gần đây được tạo ra nhằm thu hút khách du lịch. Ai cũng có thể hiểu điều đó. Tuy nhiên, các festival này bị dư luận kêu ca là tổ chức vô tội vạ và lãng phí. Nói vô tội vạ cũng chả oan cho các lễ hội này bởi nó không nhằm một dịp nào cả và không dựa trên một truyền thống nào cả. Ở Khánh Hòa thì họ làm festival biển vì cứ nhắc đến địa danh này là người ta lại nghĩ đến biển. Vì vậy, một số địa phương khác có biển, như Bà Rịa – Vũng Tàu hay Đà Nẵng là một ví dụ, cũng hồ hởi làm một cái festival biển cho bằng chị bằng em. Các festival biển này mặc dù nói là để tôn vinh các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương nhưng rốt cuộc cũng chỉ là những đặc điểm văn hóa chung chung mà ở đâu trên lãnh thổ Việt Nam người ta cũng có thể thấy và có thể làm được. Nói cách khác là không có một đặc trưng của địa phương đó. Bởi thế nên các liên hoan kiểu này không có một điểm nhấn cần thiết để in sâu trong đầu khách du lịch. Nhiều địa phương khác cũng có các festival “chung chung” tương tự. Một năm ở Việt Nam đâu thiếu gì các ngày lễ Tết truyền thống. Từ Tết Nguyên Đán đến Tết Đoan Ngọ, rồi Hội Lim, v.v... Chúng ta đâu thiếu các dịp để tổ chức festival mà cứ phải làm vô tội vạ như vậy.

Quay lại với “cô ca sĩ” Thái Lan. Người Thái nhận thức được các giá trị truyền thống một cách rõ ràng và họ biết cách quảng bá nó. Songkran được thế giới biết đến như Tết cổ truyền của người Thái cũng như Tết Nguyên Đán được người nước ngoài hiểu như là năm mới của người Việt Nam. Dịp Songkran vừa rồi, người Thái tại ra một lễ hội gọi là “International Songkran Festival” (nghĩa là Lễ hội Songkran Quốc tế). Bản thân từ “international” đã ngụ ý nước Thái muốn chào mời các vị khách quốc tế cùng đến chung vui năm mới với người dân bản xứ và cũng không giấu tham vọng đem văn hóa của họ đi khắp thế giới. Tết Nguyên Đán của Việt Nam tuy rộn ràng nhưng hình như chỉ bó hẹp trong phạm vi người bản xứ. Khách du lịch quốc tế không có dịp tận hưởng và tìm hiểu về một cái Tết đúng nghĩa ở Việt Nam. Khi nào Việt Nam mới có một lễ hội gọi là “International Tết”?.

Một năm ở Thái Lan chỉ có vài lễ hội lớn nhưng được đầu tư kỹ lưỡng. Nổi tiếng nhất sau lễ Songkran có Loy Krathong thường được tổ chức vào tháng 11 hàng năm với tục thả thiên đăng và đèn trên sông. Người Thái hy vọng với sự kiện lễ hội được tổ chức liên tục hàng năm như thế này, Loy Krathong sẽ trở thành lễ hội mang tính quốc tế. Có thể thấy rõ vấn đề ở đây là tổ chức lễ hội ít nhưng chất lượng còn hơn là nhiều nhưng kém hiệu quả. Và không thể không nhận ra ý đồ của người Thái muốn biến Songkran hay Loy Krathong thành những thương hiệu quốc gia thật sự

Ngoài ra, người Thái còn tổ chức nhiều sự kiện đình đám thể thu hút khách du lịch một cách có hệ thống. Khi du lịch người ta thường kèm theo đi mua sắm. Hiểu được tâm lý này, người Thái đã tạo ra các cơ hội bất ngờ để du khách cảm thấy việc đi đến Thái Lan không phải là một lựa chọn sai lầm. Đi kèm với thông điệp du lịch “Amazing Thailand” , người Thái còn tổ chức nhiều sự kiện tương tự mang thông điệp “đáng kinh ngạc” như việc tổ chức các đợt đại giảm giá hàng hóa lớn để thu hút khách du lịch. “Sự kiện “Amazing Grand Sale” (tạm dịch: Đại giảm giá đáng kinh ngạc) đang diễn ra hẳn đã khiến bao du khách nức lòng muốn đến Thái Lan. Đây là một phần của kế hoạch tổng thể và đồng nhất của ngành du lịch nước này.

Tóm lại, du lịch Việt Nam vẫn cần một quy trình tạo dựng thương hiệu và quảng bá gắn kết với nhau, đồng nhất với nhau và thông suốt từ dầu đến cuối. Bởi một lẽ đơn giản, một thương hiệu được tạo ra với cá tính như thế này không thể “bị” quảng bá theo một cá tính khác. Cũng giống như chuyện cô ca sĩ. Làm cho cô ấy một album ca nhạc đầu tay rồi cứ ngồi đợi bầu sô đến mời cô đi hát thì nghe có vẻ buồn cười. Nghe đâu Việt Nam đang “nhờ” CNN làm phim để quảng bá du lịch. Đó không phải là một bước đi sai nhưng nếu bước này không nằm trong một kế hoạch tổng thể như vừa đề cập ở trên thì vẻ đẹp tiềm ẩn của du lịch nước ta lại bị “giấu đi” thêm lần nữa.

V.P

Thứ Bảy, 4 tháng 8, 2007

Đừng hốt hoảng với ngôn ngữ tuổi "teen"




Tuội teen Hà Thành. Ảnh mang tính minh họa. Ai thích hiểu kiểu gì thì hiểu. Thư ký & em Bùm



Đăng trên Thanh Niên Tuần San số ra ngày 3.8.2007

VIỆT PHƯƠNG (từ Bangkok)

Làn sóng blog du nhập vào nước ta từ hơn 1 năm trở lại đây. Các nhà ngôn ngữ học đang đau đầu về cách sử dụng ngôn ngữ của tuổi teen với muôn vàn tiếng lóng, tiếng đọc trại và thậm chí là các từ mới chưa bao giờ xuất hiện trong từ điển. Thế nhưng không chỉ đến khi blog, hay nói rộng hơn là internet, du nhập vào Việt Nam, tuổi "teen" mới sáng tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ đến vậy. Không chỉ ở nước ta, Thái Lan hay một số nước phương Tây cũng đang đối mặt với hiện tượng này.

Bản thân từ "blog" (viết nhật ký trên mạng) cũng vốn không phải là một từ tiếng Anh chính thống. Nó xuất phát từ "web log", tức là những ghi chép trên trang web. Nếu viết liền 2 từ này lại thì nó sẽ được đọc như là "we blog" (chúng tôi blog). Kể từ đó "blog" nghiễm nhiên trở thành một động từ dùng để miêu tả hành động ghi chép hay viết nhật ký trên trang web. Không chỉ có từ "blog", từ khi điện thoại di động và các dịch vụ tán gẫu trực tuyến ra đời, giới trẻ cần có một cách để thông tin nhanh hơn và ngắn gọn hơn. Ở các nước sử dụng tiếng Anh, bạn đừng ngạc nhiên khi họ viết trong tin nhắn chữ "sk8board" thay vì viết đầy đủ là "skateboard" (ván trượt). Sở dĩ có sự viết tắt này là vì âm "ate" được phát ra nghe tương tự như "eight" (số 8). Chua hết, nếu tán gẫu trên internet với một "teen" Thái Lan, hẳn đôi khi bạn sẽ đau đầu vì không hiểu tại sao họ gõ một dãy 55555 trên màn hình. Số 5 trong tiếng Thái đọc là "ha". Bởi vậy 55555 có thể hiểu là "ha ha ha ha ha", một cách biểu hiện tiếng cười sảng khoái. Còn ở Việt Nam, bỏ sang một bên cái tiếng đọc trại mà lắm lúc ngay cả chính tuổi "teen" còn không thể hiểu nổi, giới trẻ cũng có nhiều cách vận dụng ngôn ngữ thú vị. Họ sẽ gõ trên màn hình chữ "3 em mới đi làm về" thay vì viết đầy đủ "Ba (bố) em...". Họ cũng viết "8 chút xíu đi" thay vì viết đủ "Tám (tán dóc, nhiều chuyện) chút xíu đi". Ngay cả từ "tám" cũng mới được sáng tạo trong thời gian gần đây.

Để liệt kê ra hết những ngôn ngữ tuổi "teen" thì e rằng phải viết ký sự dài kỳ mất. Tuy nhiên, trong khi các nhà ngôn ngữ ở Việt Nam đau đầu vì sự sáng tạo (đôi khi đi quá xa) của tuổi "teen" thì ở Thái Lan, các chuyên gia ngôn ngữ lại coi đây là một hiện tượng thú vị cần nghiên cứu. Theo họ, hiện tượng sử dụng ngôn ngữ của tuổi "teen" đang đặc biệt nở rộ trong thời gian này với sự giao thoa mạnh mẽ của các nền văn hóa mà trong đó, internet góp phần không nhỏ. Thậm chí, người Thái còn đang tính chuyện tập hợp một số ngôn ngữ tuổi "teen" để bổ sung vào từ điển. Ngoài việc tập hợp các từ ngữ mới, việc nghiên cứu ngôn ngữ tuổi teen cũng là cơ hội để các nhà quản lý hiểu thêm về sự chuyển biến trong xã hội, đặc biệt là giới trẻ. Các nhà ngôn ngữ học của Thái Lan cũng khuyên các bậc phụ huynh không nên nó lắng quá về sự sáng tạo ngôn ngữ của giới trẻ ngày nay.

Tuy nhiên, ngôn ngữ tuổi "teen" thường bị quy kết là tiếng lóng vì nó chỉ được công nhận và được hiểu trong một bộ phận của xã hội. Cũng như ở Việt Nam, các nhà ngôn ngữ học của Thái đã nỗ lực để tiếng Thái chính thống được sử dụng thay vì tiếng lóng. Thế nhưng họ nhận ra rằng thật sai lầm khi làm ngơ trước ngôn ngữ tuổi "teen". Đó cũng là một phần của lịch sử. Nó phản ánh một thời kỳ xã hội và nếu bỏ mặc nó, một phần lịch sử sẽ bị chìm vào quên lãng. Thật vậy, hiện nay ở Thái Lan, khi đọc lại những tài liệu cũ từ thời Vua Rama V (nửa cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20), người ta đã không thể hiểu được một số từ bởi những chuyên gia ngôn ngữ thời đó đã quên thu thập và truyền lại cho hậu thế. Vì vậy, một góc nhỏ của lịch sử đã bị mất đi. Ý thức được việc này, Học viên Hoàng gia Thái Lan đã bắt tay vào việc thu thập một số từ không chính thống và mới được giới trẻ "phát minh". Họ tin rằng sự thu thập này có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp các dữ liệu phục vụ cho các nghiên cứu về ngôn ngữ trong tương lai. Các nhà ngôn ngữ học của Thái đã thu thập được khoảng 300 từ được tuổi "teen" sử dụng rộng rãi, nhất là ở thủ đô Bangkok.

Ngay cả một chuyên gia Thái Lan đang biên soạn cuốn từ điển mới cũng phải công nhận rằng hồi ông còn trẻ, tuổi "teen" lúc ấy cũng phát minh ra nhiều từ mới tuy rằng nó không nở rộ và nhiều như bây giờ. Thông qua việc nghiên cứu ngôn ngữ tuổi "teen", các chuyên gia Thái Lan phát hiện ra rằng, giới trẻ ngày càng sáng tạo hơn trong việc phát minh những từ mới. Đó không chỉ là sự sáng tạo đơn thuần mà điều đó phản ánh sự thay đổi trong lối sống của giới trẻ. Thay đổi như thế nào? Sự giao thoa của các nền văn hóa là một ví dụ mà trong đó, ngôn ngữ là yếu tố dễ thấy nhất. Giới trẻ ở Thái ngày nay ưa dùng những từ tiếng Anh và pha trộn nó với các từ tiếng Thái. Thế là những từ mới ra đời. Chúng nghe lạ tai và vui vui. Nó phản ánh sự thay đổi trong lối sống của giới trẻ và nhất là sự ảnh hưởng của tiếng Anh trong đời sống xã hội.Giới trẻ cũng phát minh ra các từ mới và sử dụng nó một cách thích thú vì bản chất của giới trẻ luôn muốn có một thứ gì đó mới mẻ. Việc sử dụng các từ mới phát mình cũng làm họ nổi bật hơn giữa một nhóm bạn. Thêm vào đó, việc các từ mới được phát mình rầm rộ và liên tục cho thấy giới trẻ Thái Lan ngày nay càng tự tin hơn và muốn thể hiện mình nhiều hơn. Không chỉ ở Thái Lan, điều này có thể cũng đúng với giới trẻ Việt Nam, nơi giới trẻ xưa nay vẫn quen với sự rụt rè và chưa dám thể hiện mình nhiều. Nói cách khác, ngôn ngữ tuổi "teen" ngày nay là một công cụ giúp giới trẻ tự khẳng định mình. Cách sáng tạo ra ngôn ngữ mới cũng phản ánh cách mà giới trẻ ngay nay suy nghĩ về một vấn đề như thế nào và lối suy nghĩ này thay đổi theo thời gian ra sao. Xã hội phát triển, giới trẻ càng có nhiều hoạt động để tham gia hơn. Đó cũng là lý do mà họ cần những từ ngữ mới để miêu tả các hoạt động đó. Tuổi "teen" sử dụng các từ mới này một cách vô tư và hoàn toàn không lo lắng về ảnh hưởng của nó. Đơn giản, họ chỉ dùng cho vui.

Các bậc phụ huynh thường khuyên con mình nên đối diện với khó khăn thay vì lẩn tránh nó. Ngôn ngữ tuổi "teen' có thể là một vấn đề đau đầu với người lớn nhưng thay vì trốn tránh, cách tốt hơn có lẽ là nghiên cứu nó để hiểu con cái mình hơn và cũng để thấy rằng không phải sự chuyển biến nào của giới trẻ cũng đáng lo ngại cả.

Việt Phương

Thứ Ba, 31 tháng 7, 2007

Thêm một đêm mệt...




Đêm nay lại mệt. Đêm nào cũng mệt. Cái mệt từ 2 tuần vắt kiệt sức bây giờ mới thấm vào người. Mình như cái điện thoại di động hết hẳn pin, bây giờ phải sạc lại từ đầu. Có lẽ hơi lâu. Mình chủ quan quá, để kiệt sức lúc nào không biết.

Ngồi làm việc 1 lúc là lại thở gấp và cảm giác rất mệt. Có khi nào mình bị lao không nhỉ? Huhuhu, nghe sợ quá... Mỗi lần mệt lại nhìn xuống con hẻm nhỏ bên cạnh. Bao nhiêu chuyện thú vị xảy ra. Một cảm giác thư giãn. Mình nhận ra mình vẫn tồn tại, vẫn đam mê.